trevazatured

Bấm vào chữ bên dưới để xem trang WEB dành riêng cho :


NHIẾP ẢNH

 

 



* Số lượng khách hôm nay

* Visitors today

* Số lượng khách viếng trang Web từ tháng 6 năm 2011

*Visitors since June 2011

free counters

* Visitors since January 2013

Flag Counter

Phone :

0903884387

Google search:

trancongquoi.com

Tranh Thủy mặc - Chinese ink paintings

Tranh thủy mặc

 

 

 

Tranh thủy mặc hay tranh thủy mạc, là một loại hình hội họa khởi nguồn từ Trung Quốc. Thủy (水) là nước. Mặc (墨) là mực. Tranh thủy mặc được vẽ bằng mực nước, hay còn gọi là mực tàu trên giấy hoặc lụa. Tranh thủy mặc là loại hình phát triển cùng với nghệ thuật thư pháp Trung Hoa. Các chủ đề chính trong tranh thường là cây cối, hoa, phong cảnh, chim thú, người... và thường kèm theo thơ chữ

Tranh Thủy mặc ở Việt Nam

Khởi thủy dòng tranh thủy mặc: Lĩnh Nam tam kiệt

- Các họa sĩ nổi tiếng về tranh thủy mặc (mực nước) hiện đại ở nước ta hiện nay như Trương Hán Minh, Lư Tòng Đạo, Lý  Tùng Niên, Trương Lộ, Lý Khắc Nhu, Mạc Ái Hoàn... đều chịu ảnh hưởng của trường phái Lĩnh Nam.

Họa phái nổi danh


Lĩnh Nam họa phái thuộc về phái cách tân trong hội họa truyền thống Trung Hoa, hình thành ở Quảng Đông vào cuối đời Thanh, người sáng lập chính thức là "nhị Cao nhất Trần", tức Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ  Nhân.

Nhưng truy ngược lên nữa có thể kể đến Cư Liêm và Cư Sào - các bậc thầy về tranh hoa điểu, sư phụ của "nhị Cao nhất Trần". Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ Nhân sau khi thụ giáo Cư Liêm, đều xuất dương sang Nhật học hội họa Nhật Bản và Tây phương, tham gia Đồng minh hội.

Cả ba chủ trương "Chiết trung, Trung ngoại, dung hợp cổ kim", lấy "đổi mới" làm tôn chỉ, dung hợp tinh hoa của hội họa truyền thống Trung Hoa, Nhật Bản và trường phái Ấn tượng phương Tây.

Tác phẩm của họa phái này không dừng lại ở việc mô phỏng cổ nhân mà mang hơi thở thời đại, màu sắc diễm lệ, đạt đến hiệu quả "quang ảnh" trong hội họa phương Tây.

Cần nhấn mạnh rằng cụm từ  "Lĩnh Nam họa phái" hoàn toàn không phải do các họa sĩ ở Lĩnh Nam tự phong.

Đương thời, phong cách cách tân độc đáo trong các tác phẩm thủy mặc của Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ Nhân nổi bật trên họa đàn, người ta xưng là "Lĩnh Nam tam kiệt", dần dần sau đó hình thành cụm từ "Lĩnh Nam họa phái".

Các họa sĩ Cao, Trần đều không vừa lòng với tên gọi ấy vì nó mang tính khu vực nhỏ hẹp. Những tác phẩm tiêu biểu của 3 sư tổ này có thể kể như "Tùng phong thủy nguyệt đồ", "Tùng hạc trục đồ"...

"Trăm hoa đua nở" - bức tranh thủy mặc lớn nhất Việt Nam.
"Trăm hoa đua nở" - bức tranh thủy mặc lớn nhất Việt Nam.

Những năm đầu thế kỷ  XX, trên họa đàn Trung Hoa, Lĩnh Nam đã sánh ngang với hai họa phái nổi tiếng tiêu biểu khác là Kinh phái (Bắc Kinh) và Hỗ phái (Thượng Hải).

Năm 1924, Cao Kiếm Phụ lập Họa viện Xuân Thụy ở Quảng Châu, giảng dạy ở các trường Đại học Trung Sơn, Đại học Trung ương Nam Kinh.

Năm 1964, ông lập Viện Mỹ thuật Nam Trung, đồng thời làm hiệu trưởng trường Nghệ thuật Quảng Châu.

Còn Cao Kiếm Phong lập Thiên Phong Lâu ở Quảng Đông năm 1929, môn đồ nổi tiếng có 7 người gọi là "Thiên Phong thất tử", nổi bật nhất có Hoàng Thiếu Cường. Môn đồ của Trần Thụ Nhân có Lưu Xuân Thảo. 

Truyền bá sang Việt Nam

Thế hệ thứ hai của Lĩnh Nam họa phái bắt đầu tung hoành trên họa đàn từ những năm 30 của thế kỷ trước. Tiêu biểu nhất có "Lĩnh Nam tứ đại họa gia" gồm 4 họa sĩ: Triệu Thiếu Ngang, Quan Sơn Nguyệt, Lê Hùng Tài và Lý Thiện Thâm.

Trên cơ  sở sẵn có, các họa sĩ thế hệ này phát triển tinh thần cách tân về ý thức thẩm mỹ lẫn phong cách nghệ thuật với quan niệm "Bút mực theo thời đại", "Xưa để nay dùng".

Triệu Thiếu Ngang chính là  thầy của Lương Thiếu Hằng - người sáng lập Đông Phương nghệ uyển ở Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1960, đào tạo ra các họa sĩ nổi danh ngày nay ở TP.HCM. Họa đàn Sài Gòn - Chợ Lớn phát triển mạnh vào những năm 60, 70 thế kỷ trước.

Năm 1970, trong một cuộc triển lãm gây quỹ mua sắm trang thiết bị cho Bệnh viện Sùng Chính (nay là Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình) đã có đến 113 họa sĩ tham dự, cùng với 30 họa sĩ đến từ Hồng Kông và 64 họa sĩ đến từ Đài Loan.

Cuộc triển lãm có một không hai này tề tựu đầy đủ bốn phái ở Chợ Lớn (Lĩnh Nam Lương Thiếu Hằng; Kinh phái Đới Ngoạn Quân, Tả Bạch Đào; Hỗ phái Hà Lãng Hùng; Tây họa Sài Đinh).

Tranh Thủy mặc Hiện đại

Silk Paintings

Ancient Silk Painting

From its emergence to maturity. Chinese painting stretches over a long period that dates back to the remote Neolithic Age (8.000-5.500BC). The working early human produced practical utensils and structures with decorative designs that engendered the earliest consciousness about painting composition.

As a wall ornament. the silk painting. which contains characters of early Chinese painting. emerged in the Warring States Period (403-221BC). Representatives of such works include Lady. Dragon and Phoenix Painting and Man Driving the Dragon. which were unearthed in Changsha City. Hunan Province.

Both pieces were used at funerals to lead the dead to heaven. The Lady. Dragon and Phoenix Painting depicted stories of the deceased in the tomb. The matching of colors -- black and white. the contrast of false and truth. movement and stillness -- are striking.

         The Man Driving the Dragon depicts a bearded man wearing in a robe with a dragon beside him and a white bird standing on his tail. which demonstrates the noble status of the deceased. Among the remaining paintings are the excellent representative works of the Han Dynasty. when elaborate funerals were popular. like the one unearthed in the Mawangdui Han Dynasty tomb in Changsha City. The silk painting contains three parts: the Heaven. World and Hell. The Heaven is a horizontal scroll. while the others are vertical. wishing the deceased spirit entered Heaven.

  The discovery of the silk paintings provided important historical materials for researching the development of traditional painting.

Tranh chọn lọc - Selection

 

 

 

Phong cảnh - Landscape

 

 

 

Trúc - Bamboo

 

 

 

Lan - Orchird

 

 

 

Hoa sen - Lotus

 

 

 

Khỏa thân - Nude

 

 

Nude Chinese Oil Paintings

 

 

HOME